Thứ Bảy, 22 tháng 10, 2016

Thuốc gây mê

1. Đặc điểm dược động học của thuốc gây mê:

- Thuốc gây mê hô hấp:
  •  Thuốc qua đường hô hấp vào phổi, khuếch tán vào máu và đến thần kinh trung ương gây tác dụng ức chế. Khi nồng độ thuốc mê ở thần kinh trung ương đạt tới ngưỡng, trạng thái mê sẽ xuất hiện.
  •  Sự xâm nhập của thuốc mê vào phổi phụ thuộc nồng độ thuốc gây mê trong không khí và sự thông khí ở phổi.
  •  Sự xâm nhập của thuốc từ phổi vào máu phụ thuộc vào sự chênh lệch nồng độ giữa phổi - máu, tính thấm của màng phế nang và tính tan của thuốc trong máu.
  •  Các thuốc ít tan, hệ số phân bố máu trong khí nhỏ, thuốc nhanh đạt nồng độ cân bằng ở não, thời gian tiềm tàng ngắn, gây mê nhanh.
  •  Các thuốc gây mê hô hấp sau khi hấp thu vào máu sẽ phân bố vào các cơ quan có lưu lượng máu cao như não, tim, gan, thận,... sau đó sẽ phân bố lại vào các cơ quan ít được tưới máu như cơ, mỡ.
  •  Thuốc được chuyển hóa một phần ở gan, thải trừ qua nước tiểu. Phần lớn thuốc thải trừ qua đường hô hấp ở dạng chưa chuyển hóa.

2. Tác dụng: gây mê.

- Tác dụng trên các cơ quan khác:
  •  Hô hấp: Ức chế hô hấp.
  •  Não: Giãn mạch máu não, tăng áp lực sọ não.
  •  Hệ tim mạch: Ức chế tim mạch, hạ huyết áp. (trừ Enfluran và Isofluran làm tăng nhịp tim ).
  •  Cơ: giãn cơ (giãn cơ vân, cơ trơn yếu ).
  •  Thận: tăng sức sản mạch thận, giảm mức lọc cầu thận.
- Các thời kỳ tác dụng:
  1.  Giai đoạn 1: Thời kỳ giảm đau: thuốc ức chế trung tâm cao cấp ở vỏ não làm người bệnh mất dần linh cảm, cảm giác đau, nóng, lạnh.
  2.  Giai đoạn 2: Thời kỳ kích thích: thuốc ức chế trung tâm vận động ở võ não làm trung tâm vận động dưới vỏ não thoát ức chế. Bệnh nhân ở trạng thái kích thích: la hét, giãy dụa, nôn, ho, tăng tiết đờm, có thể gây co thắt khí phế quản, hô hấp không đều. Diễn ra chỉ trong 1 đến 2 phút nhưng dễ gây tai biến.
  3.  Giai đoạn 3: Thời kỳ phẫu thuật: thuốc ức chế xuống vùng dưới vỏ não và tủy sống làm mất ý thức, mất phản xạ, giãn cơ => phù hợp với phẫu thuật.
  4.  Giai đoạn 4: Thời kỳ liệt hành tủy: thuốc vào trung tâm hô hấp và vận mạch trên hành não => tim đập chậm, yếu, rối loạn hô hấp, có thể ngừng tim, ngừng hô hấp => không cấp cứu kịp thời bệnh nhân chết sau 3 đến 4 phút.

3. Tác dụng không mong muốn:

- Trong khi gây mê:
  1.  Tim mạch: ngừng tim, ngất, rung tâm thất, hạ huyết áp, shock. Do phản xạ, thường xảy ra đột ngột, ngay ở giai đoạn khởi mê.
  2.  Trên hô hấp: Tăng tiết dịch đường hô hấp, co thắt thanh quản, ngừng hô hấp do phản xạ.
  3.  Trên tiêu hóa: gây nôn, gây nghẽn đường hô hấp.
- Tai biến sau gây mê:
  1.  Viêm đường hô hấp (viêm khí, phế quản, viêm phổi,...): tai biến hay xảy ra khi gây mê bằng ether.
  2.  Độc gan: thuốc gây mê chuyển hóa ở gan tạo chất chuyển hóa gây độc cho gan.
  3.  Độc tim: ức chế hoạt động của tim gây suy tim.
  4.  Liệt ruột, liệt bàng quang do tác dụng giãn cơ.

4. Cách hạn chế tác dụng không mong muốn:

 - Dùng thuốc tiền mê:
  •  An dịu, giảm lo lắng  và sợ hãi của bệnh nhân => mất phản xạ bất lợi, khởi mê dễ dàng.
  •  Tăng tác dụng, giảm liều thuốc mê.
  •  Giảm hoặc mất tác dụng không mong muốn và tai biến của thuốc gây mê.( ngừng tim đột ngột, ngừng hô hấp, tăng tiết dịch ).
- Các nhóm thuốc tiền mê:
  •  Giảm đau, gây ngủ.
  •  An thần, gây ngủ.
  •  Liệt thần.
  •  Hủy phó giao cảm.
  •  Mềm cơ.
  •  Kháng Histamin.

5. Thuốc gây mê cơ sở:

  •  Thuốc gây mê có tác dụng ngắn, mạnh => dễ gây cảm ứng mê nhanh. 
  •  Dùng thuốc mê cơ sở giúp khởi mê nhanh, êm dịu, tránh các tai biến do phản xạ, làm mất giai đoạn kích thích.


Cảm xúc bình luậnCảm xúc bình luận